Ngày 28 tháng 4
năm 2026, tại Đại học Nghiên cứu Quốc gia “MPEI” đã diễn ra kỳ thi Olympic tiếng
Nga mở lần thứ XX dành cho sinh viên quốc tế của các trường đại học ngoài
chuyên ngành ngôn ngữ học tại Liên bang Nga.
Kỳ thi Olympic
tiếng Nga mở dành cho sinh viên quốc tế các trường đại học ngoài chuyên ngành
ngôn ngữ học được tổ chức tại Đại học Nghiên cứu Quốc gia MPEI từ năm 2001. Kể
từ đó, hơn 4.000 sinh viên đã tham gia. Năm nay, kỳ thi có sự góp mặt của 92
thí sinh đến từ 37 quốc gia và 14 trường đại học, cùng với 34 thí sinh khác
tham gia theo hình thức trực tuyến.
Chủ đề của
Olympic năm 2026 là “Tôi yêu bạn, nước Nga!”, chủ đề đã gắn kết tình yêu đối với
ngôn ngữ, văn hóa và truyền thống của đất nước Nga, đồng thời mở ra những cơ hội
mới cho sự sáng tạo và thể hiện bản thân trong kỳ Olympic lần thứ XX mang ý
nghĩa đặc biệt này.
“Ngày hôm nay,
các bạn đã chứng minh rằng để yêu nước Nga, không nhất thiết phải sinh ra tại
đây, mà chỉ cần một lần lựa chọn nước Nga bằng cả tâm hồn mình. Chúc các bạn tận
hưởng niềm vui từ những phần trình diễn. Mong rằng việc tham gia Olympic sẽ trở
thành một sự kiện tươi sáng và đáng nhớ đối với các bạn!”, – Hiệu trưởng Đại học
Nghiên cứu Quốc gia “MPEI”, ông N.D. Rogalev, đã gửi lời chào mừng đầy ấm áp.
Giám đốc Viện
Nhân văn Ứng dụng A.B. Rodin nhấn mạnh rằng Olympic là cơ hội đặc biệt để các
sinh viên quốc tế thể hiện tài năng, thành tích và niềm đam mê chân thành đối với
văn hóa Nga.
Trong bài phát
biểu chào mừng, Trưởng Bộ môn tiếng Nga của Đại học Nghiên cứu Quốc gia “MPEI”,
bà O.A. Sergeeva, lưu ý rằng đối với nhiều thí sinh, Olympic không chỉ là một
thử thách trí tuệ mà còn là bước tiến quan trọng trên con đường hiểu biết sâu sắc
hơn về văn hóa Nga.
Những sinh viên
năng động và tài năng nhất đã trình bày các tiết mục của mình theo chủ đề “Tôi
yêu bạn, nước Nga!” và tranh tài ở ba hạng mục:
• Phần thi hát đơn ca
• Phần thi hát đồng ca
• Phần thi ngâm thơ
Các phần trình
diễn của sinh viên được đánh giá bởi hội đồng giám khảo chuyên môn gồm các giảng
viên tiếng Nga như ngoại ngữ đến từ 8 trường đại học của Nga: Đại học Nghiên cứu
Quốc gia “Viện Năng lượng Moskva” (MPEI), Đại học Nông nghiệp Quốc gia Nga – Học
viện Nông nghiệp Moskva mang tên K.A. Timiryazev, Đại học Quốc gia Dầu khí Nga
mang tên Gubkin (Đại học Nghiên cứu Quốc gia), Đại học Giao thông Vận tải Nga,
Đại học Quốc gia Khoa học và Công nghệ MISIS, Viện Vật lý và Công nghệ Moskva,
Đại học Quốc gia Kaluga mang tên K.E. Tsiolkovsky, Đại học Xây dựng Quốc gia
Moskva (Đại học Nghiên cứu Quốc gia).
Theo kết quả
bình chọn của hội đồng giám khảo chuyên môn, các vị trí trong vòng chung kết
Olympic được phân chia như sau:
Bảng sơ cấp.
Hạng mục “Thi
hát đồng ca”:
|
Giải nhất
|
Trường Đại học Xây dựng Quốc
gia Moskva (Đại học Nghiên cứu Quốc gia)
|
Nchabeleng Khokhome Kagiso
Reitumetse (Nam Phi), Kpo Selase Attakuma Kwame (Ghana), Bigirimana Richard
(Burundi), Abiduhaye Nestor (Burundi), Al-Shamartian Muataz Abbas Kamil
(Iraq), Mzough Oranderen Metthew (Nigeria), Toure Moussa (Mali), Kourouma Moussa (Guinea), Elraghum Nasir
Babiker Ayat (Sudan), Saleh Hernandez Emir Mutahar
|
|
Giải nhì
|
Đại học Nghiên cứu Quốc gia về
Công nghệ Điện tử
|
Aung Htet Naing Oo, Min Khant
Kyaw, Thaw Zin Ko, Thant Zin, Thant Thiha Soe, Hein Aung Htet, Hein Htet Aung
Soe, Htet Wai Yan Aung, Htun Lin Kyaw.
Miến Điện
|
|
Giải ba
|
Đại học Nghiên cứu Quốc gia “Viện
Năng lượng Moskva” (MPEI)
|
Kahil Almasah Ayman Radwan
(Palestine), Diarra Jacqueline Habi (Mali), Coulibaly Aboubakar (Mali),
Togola Boubacar (Mali), Mwebaze Frank (Rwanda), Bankulaba Hadi (Cộng hòa
Togo), Kunumono Nkaya Norbin Prudent (Congo), Béri-Matondo Jude Emmanuel
(Congo), Rakhadidje Dawi (Chad), Turay Matthew J. (Sierra Leone)
|
Hạng mục “Thi
hát đơn ca”:
|
Giải nhất
|
Đại học Nghiên cứu
Quốc gia “Viện Năng lượng Moskva” (MPEI)
|
Abdullah Sahin (Thổ
Nhĩ Kỳ)
|
|
Giải nhì
|
Viện Vật lý và Công
nghệ Moskva
|
Mukabarisa Angel
(Rwanda)
|
|
Giải ba
|
Đại học Kỹ thuật
Truyền thông và Tin học Moskva
|
Nka Ada Cecilia
Nzang (Equatorial Guinea)
|
|
Giải ba
|
Đại học Giao thông
Vận tải Nga
|
Ganbat Gantulga
(Mongolia)
|
Hạng mục “Thi
ngâm thơ”:
|
Giải nhất
|
Đại học Nông nghiệp
Quốc gia Nga – Học viện Nông nghiệp Moskva mang tên K.A. Timiryazev
|
Harb Noura
(Lebanon)
|
|
Giải nhì
|
Đại học Kỹ thuật
Truyền thông và Tin học Moskva
|
Dohinnon Christ
Rothen Espoir (Benin)
|
|
Giải ba
|
Đại học Giao thông
Vận tải Nga
|
Chaya Ram (Lebanon)
|
|
Giải ba
|
Viện Vật lý và Công
nghệ Moskva
|
Cheng Haozhe (Trung Quốc)
|
Trong hạng mục "Thi hát đồng ca", ban giám khảo và ban tổ chức
Olympic đã đặc biệt khen ngợi màn trình diễn của các nhóm thí sinh nhóm sơ cấp:
|
Vì sự truyền cảm và
khả năng biểu đạt đặc biệt
|
Đại học Kỹ thuật Quốc
gia Moskva Bauman (cơ sở giáo dục đại học tự chủ của Nhà nước Liên bang)
|
Luo Yiming (Trung
Quốc), Oliveros Baldion Isabel Sofia (Colombia), Chacha Rochina Cesar
Sebastian (Ecuador), Sezen Yagiz Deniz (Thổ Nhĩ Kỳ), Ozdogan Baris (Thổ Nhĩ Kỳ),
Kyaw Zin Win (Myanmar), Myo Zaw Tun (Myanmar), Isik Ayse Hiranur (Thổ Nhĩ Kỳ),
Figueredo Alfonso Nicolas (Colombia)
|
Những người chiến thắng trong nhóm chính là:
Hạng mục "Thi hát đồng ca":
|
Giải nhất
|
Đại học Nghiên cứu
Quốc gia “Viện Năng lượng Moskva” (MPEI)
|
Gu Xinyuan (Trung Quốc), Yin Hongxing (Trung Quốc),
Christophe Niyonsaba (Cộng hòa Burundi)
|
|
Giải nhì
|
Đại học Quốc gia
Khoa học và Công nghệ MISIS
|
Mukinda Artur Camati
Pakissi, Venacio Franca Paulo (Angola)
|
|
Giải ba
|
Đại học Xây dựng Quốc
gia Moskva (Đại học Nghiên cứu Quốc gia)
|
Rocha Garofalo
Stalin Isaias (Ecuador), Fwambo Gladson (Zambia)
|
Hạng mục “Thi hát đơn ca”:
|
Giải nhất
|
Đại học Giao thông
Vận tải Nga
|
Saltos Chele
Marcelino Gabriel (Ecuador)
|
|
Giải nhì
|
Đại học Quốc gia
Kaluga mang tên K.E. Tsiolkovsky
|
Teixeira
Claudete Luzia Vicente (Angola)
|
|
Giải ba
|
Đại học Nghiên cứu
Quốc gia về Công nghệ Điện tử
|
Yan Naing Kyaw (Myanmar)
|
Hạng mục “Cuộc
thi ngâm thơ”:
|
Giải nhất
|
Đại học Nghiên cứu
Quốc gia “Viện Năng lượng Moskva” (MPEI)
|
Tsagaadai Yusui (Mongolia)
|
|
Giải nhì
|
Đại học Quốc gia
Kaluga mang tên K.E. Tsiolkovsky
|
Kantala Sansi
Louis-Premier (Congo)
|
|
Giải ba
|
Đại học Quốc gia Dầu
khí Nga mang tên Gubkin (Đại học Nghiên cứu Quốc gia)
|
Alava Cedeno
Alberto Josue (Venezuela)
|
|
Giải ba
|
Viện Hàng không Moskva
|
Diallo Samballa (Mali)
|
Trong hạng mục
“Thi hát đơn ca”, các thành viên ban giám khảo và ban tổ chức Olympic đã đánh
giá nổi bật phần trình diễn của các thí sinh thuộc nhóm chính:
|
Vì kỹ năng thanh nhạc xuất sắc
|
Đại học Kỹ thuật
Hàng không Dân dụng Moskva
|
Hariniaina Joice Winsley (Madagascar)
|
Trong hạng mục
“Thi ngâm thơ”, các thành viên ban giám khảo và ban tổ chức Olympic đã đánh giá
nổi bật phần trình diễn của các thí sinh thuộc nhóm chính:
|
Vì tài năng thơ
ca
|
Đại học Kỹ thuật
Hàng không Dân dụng Moskva
|
Mondlane Joel Agostinho (Mozambique)
|
|
Vì ý chí chiến thắng
|
Đại học Công nghệ
Nga MIREA
|
Sidra Al Mulhem (Syria)
|
Ban Hợp tác Quốc
tế và Bộ môn Tiếng Nga như một ngoại ngữ của Đại học Nghiên cứu Quốc gia “MPEI”
xin chúc mừng các thí sinh đoạt giải!